TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN TRONG TRƯỜNG HỢP NHỜ NGƯỜI KHÁC NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG
TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN TRONG TRƯỜNG HỢP NHỜ NGƯỜI KHÁC NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG
Nhờ người khác đứng tên nhận chuyển nhượng tài sản là một chủ đề tuy không quá xa lạ nhưng vẫn chưa bao giờ hết “hot”. Đã có rất nhiều trường hợp xảy ra tranh chấp xoay quanh việc nhờ người thân, họ hàng, bạn bè.... đứng tên hộ trên giấy chứng nhận sở hữu tài sản, khiến cho những mối quan hệ bị rạn nứt, đổ vỡ - thậm chí phải dùng đến pháp luật để giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp đó. Như vậy, nhờ người khác đứng tên nhận chuyển nhượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất liệu có hợp pháp hay không? Pháp luật quy định như thế nào xung quanh chủ đề này? Chúng ta cần phải làm gì để tránh, giảm thiểu, những tranh chấp không đáng có?
1. Quyền sở hữu tài sản là gì?
Tài sản và quyền sở hữu tài sản là những vấn đề quan trọng được rất nhiều người quan tâm, theo Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định về khái niệm tài sản: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Như vậy, chủ sở hữu tài sản có các quyền liên quan đối với tài sản mà mình đang sở hữu.
Căn cứ vào điều 158 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về quyền sở hữu như sau:
“ Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”.
Dựa vào hai khái niệm trên, quyền sở hữu tài sản được hiểu là quyền của con người được pháp luật bảo vệ đối với những tài sản mà pháp luật cho phép, ghi nhận quyền được sử dụng, chiếm hữu và định đoạt tài sản.
2. Pháp luật có cho phép nhờ người khác đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay không?
Hiện nay, nhờ người khác đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là những trường hợp không hiếm gặp. Có nhiều lý do khác nhau dẫn đến việc người chủ không đứng tên trên giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thể kể đến như:
+ Cá nhân nước ngoài thuộc đối tượng không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam nên nhờ người khác đứng tên trên giấy nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
+ Cá nhân nước ngoài thuộc đối tượng được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, tuy nhiên vì khoảng cách địa lý, ngần ngại trong việc trở về nước làm thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên chuyển tiền về cho người thân, bạn bè....mua và đứng tên nhận chuyển nhượng.
+ Cha mẹ già yếu, khó khăn việc đi lại nên nhờ con cái đứng tên thay để dễ dàng trong việc giải quyết các thủ tục pháp lý hay trường hợp anh chị em ở xa nhờ người thân mua đất và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.......
Căn cứ tại khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”
Như vậy, xét ở góc độ pháp lý việc mua đất nhờ người khác đứng tên trên Giấy chứng nhận là trái với quy định pháp luật. Việc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu và được pháp luật công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Ngoài ra, trên thực tế người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thường bị nhầm lẫn là “chủ sở hữu” của tài sản đó. Điều này dẫn đến việc họ được nhận đầy đủ các quyền liên quan, bao gồm: Quyền sử dụng, quyền chiếm hữu, quyền định đoạt đối với tài sản. Do đó, khi mua đất nhờ người khác đứng tên trên Giấy chứng nhận nghĩa là bạn đang trao cho họ quyền sử dụng, sở hữu đối với bất động sản đó. Trong khi thực tế họ không phải là chủ sở hữu, chủ sử dụng thực sự của tài sản và bạn sẽ có nguy cơ gặp nhiều rủi ro pháp lý trong tương lai.
3. Rủi ro pháp lý khi nhờ người khác đứng tên nhận chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Với những trường hợp nhờ người khác nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như chúng tôi phân tích ở trên, những rủi ro pháp lý mà chúng ta có thể phải đối diện trong tương lai như sau:
Nguy cơ mất trắng tài sản khi mua đất nhờ người khác đứng tên
Trong trường hợp người được nhờ đứng tên quyền sử dụng đất có ý định chiếm đoạt, không chịu sang tên lại tài sản và phủ nhận việc họ được nhờ đứng tên thì bạn hoàn toàn có nguy cơ bị mất trắng tài sản. Nếu muốn đòi lại tài sản thì phải tốn nhiều thời gian, tiền bạc để giải quyết tranh chấp theo con đường kiện tụng. Đây là một trong những rủi ro lớn nhất và phổ biến.
Không có bất cứ quyền hạn nào đối với bất động sản nhờ đứng tên đất
Người đứng tên trên Giấy chứng nhận sẽ có đầy đủ các quyền của chủ sở hữu ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bao gồm quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp, góp vốn. Mặc dù trên thực tế họ không phải là chủ thực sự của tài sản đó, tuy nhiên họ là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và pháp luật dựa vào căn cứ này để cho phép họ thực hiện các quyền của người sử dụng đất.
Không được bồi thường khi bất động sản bị thu hồi
Khi có quyết định thu hồi lại tài sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nếu đủ điều kiện để nhận bồi thường thì chỉ người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được bồi thường theo quy định của pháp luật.
Tài sản bị kê biên khi người được nhờ đứng tên đất có nghĩa vụ với bên thứ ba
Nếu người được nhờ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nghĩa vụ tài sản đối với bên thứ ba mà họ không có khả năng chi trả và theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì bất động sản đứng tên họ cũng sẽ bị kê biên để thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ ba. Khi đó các quyền lợi liên quan của người chủ thực sự sẽ không được đảm bảo và đáng lo nhất sẽ có nguy cơ mất trắng tài sản.
Rủi ro khi người được nhờ đứng tên đất qua đời
Một khi người được nhờ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua đời thì tài sản mà họ đứng tên sẽ trở thành di sản thừa kế và được phân chia cho những người thừa kế. Nếu người thừa kế không biết được việc người để lại di sản là người được nhờ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bạn phải có giấy tờ chứng minh lời nói của mình là sự thật để có thể thuyết phục họ. Trong trường hợp người thừa kế biết về thỏa thuận nhờ đứng tên trên giấy chứng nhận mà không thừa nhận việc này thì sẽ dẫn đến xảy ra tranh chấp, xung đột liên quan.
4. Cần làm gì để tránh, giảm thiểu những tranh chấp liên quan đến nhờ người khác nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
+ Thứ nhất, hạn chế trường hợp nhờ người khác nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đây là cách an toàn nhất và tránh được những rủi ro, tranh chấp về sau.
+ Thứ hai, trong trường hợp bắt buộc phải nhờ người khác đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phải có những giao kết, giấy tờ chứng minh hợp pháp cho việc thực hiện thỏa thuận trên. Người chủ thật sự cần lập hợp đồng uỷ quyền ghi nhận rõ và đầy đủ các nội dung thỏa thuận, trong đó có nội dung người đứng tên giùm phải chuyển quyền sử dụng cho mình ngay khi có điều kiện; chỉ được đứng tên và quản lý chứ không được quyền định đoạt như mua, bán, tặng cho, cầm cố, thế chấp…Và tất cả những thoả thuận đó cần được công chứng, chứng thực, kể cả trường hợp cha mẹ cho con đứng tên giùm… để tránh trường hợp xảy ra tranh chấp trong những người đồng thừa kế, hoặc đồng sở hữu.
+ Thứ ba, lưu giữ các chứng cứ chứng minh cho việc tài sản nhận chuyển nhượng thực tế do mình chi trả tiền ra để sang nhượng và nhờ người khác đứng tên trên các giao dịch liên quan;
+ Thứ tư, lưu ý những thông tin liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng, quyết định thu hồi – bồi thường đất của nhà nước đối với mảnh đất nhờ người khác đứng tên quyền sử dụng đất.
--------------------------------------------------------------
☎ Liên Hệ Ngay:
Quý khách vui lòng liên hệ để biết thêm chi tiết và nhận tư vấn miễn phí trực tiếp với chúng tôi.
CÔNG TY LUẬT TNHH KHÁNH DƯƠNG VÀ CỘNG SỰ
Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà WMC, 102A-B-C Cống Quỳnh, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.
VPGD: 1048 Phạm Thế Hiển, Phường 5, Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh.
Hotline Tổng Đài tư vấn pháp luật miễn phí: 1900.633.717
Số điên thoại yêu cầu dịch vụ Luật sư: 0986.708.677
Email: duong@luatkhanhduong.com
Website: https://luatkhanhduong.com


